Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2013
** Alice **
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ký quyết định nghỉ hưu theo chế độ từ ngày 01/3 đối với ông Trương Đình Tuyển, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia và Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Phái viên Tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về an ninh và tôn giáo thì phần đông người dân tỏ ra quan tâm và chia sẻ cảm xúc rất thật của mình về họ, những người “quan” của dân, điều đó cho thấy cả hai ông đều là những người lãnh đạo thực sự có tầm. Điều đáng nói, một số trang mạng lại đăng thông tin sai lệch, bôi đen hình ảnh thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng. Đây là thủ đoạn của những kẻ chống phá làm suy giảm hình ảnh của cán bộ lãnh đạo nước ta.
Chúng ta đều biết, Thượng Tướng Nguyễn Văn Hưởng đã đi vào lòng dân như một vị tướng suốt đời cống hiến sức mình cho sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ đất nước. Cả cuộc đời chính trường của ông gắn với công tác âm thầm mà cao quý đó là bảo vệ an ninh quốc gia. . Là người cả đời làm công tác an ninh nên ông rất kín đáo, chỉ có thu thập chứ ít khi tiết lộ thông tin, nhất là thông tin về bản thân và các hoạt động của ông. Có lẽ vì tính chất đặc thù của công việc cũng đã tạo cho ông tính cách là người trầm tính, cẩn thận, kín đáo. Đó cũng chính là lý do vì sao chúng ta thấy rất ít thông tin cá nhân của ông trên các phương tiện truyền thông. Theo ghi nhận từ những người từng tiếp xúc với Thượng tướng chia sẻ thì ông là người giỏi về nghiệp vụ, luôn khôn khéo và kiên quyết đến cùng với kẻ địch nhưng lại gần gũi, thương yêu, quan tấm đến đồng đội; kiệm lời khi nói về bản thân mình. Ông là người gần gũi với đồng bào dân tộc Tây Nguyên, với các tôn giáo và nông dân để mang lại quyền lợi cho họ.
Thượng tướng đã cống hiến sức lực và tâm huyết thầm lặng của mình cho đất nước, cho dân tộc. Ông đã cùng đồng đội của mình “nằm gai, nếm mật” đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, góp phần giữ vững ổn định chính trị trên các địa bàn chiến lược của đất nước.
Đối với đồng nghiệp, ông là tấm gương sáng, bản lĩnh cho các thế hệ trẻ an ninh Việt Nam học tập, noi theo.
Với người dân, đặc biệt là bà con đồng bào các dân tộc, tôn giáo ông luôn dành thời gian tiếp xúc, gần gũi để lắng nghe tiếng nói của người dân và đem lại quyền lợi thiết thực cho họ.
Những lời trên đây chỉ là một trong số các chia sẻ rất đỗi chân thành, mộc mạc mà người dân dành cho Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, rồi mai đây khi “tre già măng mọc” người dân sẽ kể cho con cháu nghe những câu chuyện về ông như tấm gương để lớp trẻ noi theo. Thực tế làm lãnh đạo đã khó, càng khó hơn khi làm lãnh đạo được dân tin yêu, kính nể. Tin rằng dù đã nghỉ hưu nhưng ông sẽ tiếp tục đóng góp sức mình vì người dân và đất nước Việt Nam. Kính chúc Thượng tướng dồi dào sức khoẻ./.


Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013
----Mặt trời hồng----
Trong các đòn tấn công phá hoại về mặt tư tưởng, đả kích, bôi nhọ các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngoài các thế lực thù địch ra thì các phần tử cơ hội chính trị cũng đang thực hiện một cách ráo riết. Họ phát biểu công khai, phát tán tài liệu, công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Họ đưa thông tin lên mạng Internet những quan điểm sai trái hòng làm tan rã lòng tin, gây chia rẽ nội bộ. Vậy họ là ai? Họ xuất hiện do đâu?
Hiện tượng cơ hội chính trị đã xuất hiện từ khi lịch sử loài người phân chia giai cấp. Trong xã hội phong kiến, bên cạnh những minh quân và quan lại thanh liêm chính trực, thường xuyên xuất hiện những người giành quyền lực bằng thủ đoạn không chính đáng: bề ngoài họ tỏ ra là trung quân ái quốc, nhưng trong hành động họ là người phản bội, phá hoại lợi ích của dân tộc, cộng đồng.
Theo định nghĩa kinh điển thì cơ hội chính trị có biểu hiện như sau:
1. Thái độ chính trị không theo một đường lối rõ rệt, không có chính kiến hẳn hoi, có thể ngả bên này hay bên nọ để mưu lợi trước mắt.
2. Trong phong trào cộng sản, có 2 khuynh hướng cơ hội:
- Cơ hội “hữu khuynh”: sùng bái phong trào tự phát, từ bỏ cách mạng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận giai cấp công nhân giành chính quyền.
- Cơ hội “tả khuynh”: là sự kết hợp hỗn tạp những phương châm cách mạng cực đoan và phiêu lưu, dựa trên cơ sở những quan nệm duy ý chí về sức mạnh tuyệt đối của bạo lựac cách mạng.
Cơ hội hữu khuynh và tả khuynh bề ngoài có vẻ đối lập nhau, song chúng đều giống nhau ở thái độ thù địch với Chủ nghĩa Mác-Lênin, với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, ngày nay họ thù địch với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Lênin từng nhận định: “Khi nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không bao giờ đặc điểm của tất cả các loại chủ nghĩa cơ hội hiện tại trong mỗi lĩnh vực là: nó mang tính chất không rõ ràng, lờ mờ và không thể nào hiểu được. Do bản chất của mình, phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát; bao giờ nó cũng trên con đường trung dung, nó quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách thoả thuận với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những sự bất đồng ý kiến của mình thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại...”
Tư tưởng cơ hội chính trị gây nguy hại nghiêm trọng tới sự vững mạnh về chính trị và trong sạch về tổ chức Đảng, tới vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, kể cả bản thân vận mệnh của Đảng. Do đó, tăng cường cuộc đấu tranh đẩy lùi và khắc phục tư tưởng cơ hội với mọi biểu hiện của nó là vấn đề đang đặt ra một cách cấp thiết. Cuộc đấu tranh này phải gắn liền với cuộc đấu tranh kiên quyết đập tan các luận điệu thù địch xảo trá mưu toan xoá bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng, cổ vũ “dân chủ, nhân quyền” tư sản. Trong cuộc đấu tranh này, không lúc nào được phép buông lỏng đấu tranh, vạch trần bản chất sai trái, nguy hại của chủ nghĩa cơ hội, xét lại, chủ nghĩa giáo điều cũ và mới, của mọi biểu hiện mơ hồ, dao động về chính trị cũng như lối sống cơ hội thực dụng.
Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013
---Mặt trời hồng---
Xuyên tạc lịch sử vốn là một thủ đoạn hoạt động của chiến tranh tâm lý đã được sử dụng từ lịch sử thời cổ đại. Lịch sử gắn liền với truyền thống, với niềm tin và lòng tự hào dân tộc. Những biểu tượng trong lịch sử tạo nên sức mạnh to lớn của mỗi dân tộc. Lịch sử dân tộc Việt Nam không thể thiếu những tấm gương vĩ đại như Lý Thường Kiệt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống, Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Ngày nay, lịch sử không thể nào quên những tấm gương lẫm liệt của hàng triệu người trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại Hồ Chí Minh. Xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, đổi trắng thay đen, làm mất lòng tin của các thế hệ đối với truyền thống vẻ vang của dân tộc.
Những thế lực thù địch được các phần tử cơ hội hưởng ứng, ra sức “bắn đại bác vào quá khứ” tung ra những luận điệu trắng trợn, bôi đen truyền thống của dân tộc.
Chúng xuyên tạc những thành quả của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945; xuyên tạc, phỉ báng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta; phỉ báng, chửi bới với những ai tuyên truyền, giáo dục truyền thống tốt đẹp cho các thế hệ. Đáng buồn hơn họ lại là những con người trí thức có học, có hiểu biết, có địa vị trong xã hội. Những cái tên Nguyễn Thanh Giang hay Dương Thu Hương nhiều lần xuất hiện trên báo chí, Internet cùng với những luận điệu thù địch, ác ý, đả kích lịch sử, chính quyền Việt Nam, chúng tự cho mình cái gọi là “quyền dân chủ” để thực hiện âm mưu, ý đồ lật đổ của mình.
“Quyền dân chủ” không phải là một khái niệm vô hạn. Quyền dân chủ dưới một chính thể nào cũng gắn liền với tất yếu. Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện thúc đẩy sự phát triển tự do cho mọi người. Không có quyền dân chủ nào được phép vu cáo, phỉ báng một dân tộc. Không có thứ dân chủ nào được phép xâm phạm lợi ích đất nước, kích động bạo loạn trong nước.
Nhân dân ta có câu “Lời nói, đọi máu”. “Ngậm máu phun người” từ xa xưa đã là tội ác. Vu cáo cá nhân là một tội trạng đã được xác nhận trong bất kỳ bộ luật hình sự của bất kỳ quốc gia nào.
Vu cáo cả một dân tộc, phỉ báng cả truyền thống, nơi đã sinh ra, nuôi dưỡng mình, cam tâm “nhai lại” ở mức độ cuồng nhiệt hơn những kẻ thù tư tưởng của Tổ quốc mình là một tội ác. Nhân dân ta, dân tộc ta không thể dung thứ tội ác như vậy./.
Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013
Mũ Bạc

Khi mà chúng tôi è cổ vận chuyển từng viên gạch ra Trường Sa, các nhà “rân chủ” rủ nhau cuối tuần đi "biểu tình".
Khi mà tàu Trung Quốc khiêu khích, các nhà “rân chủ” dường như "quên" những hành động đâm tàu, vác loa, những chuyến đi biển dài ngày của các tàu quân sự Việt Nam ngoài Trường Sa.
Khi mà Trung Quốc đang đại hội Đảng vào mùa cuối năm biển động, tàu thuyền đều cập bến. Các nhà “rân chủ” hớn hở cho rằng chính họ "biểu tình" làm cho TQ sợ không dám khiêu khích VN.
Hàng ngày, công binh Việt Nam liên tục xây dựng các vị trí nhà dàn, đảo nhỏ, đảo lớn ngoài Trường Sa ngay từ những năm 70. Còn các nhà "rân chủ" mới bắt đầu ra biển Đông ở "Vũng Tàu" chụp hình treo khẩu hiệu để chứng tỏ lòng "yêu nước" của họ từ năm ngoái.
Khi mà VN mua tàu mới sắm vũ khí hải quân được đăng báo rùm beng. Các nhà “rân chủ” rất thích cố chứng minh Hải Quân VN thua kém hải quân Tàu và quan tâm tới các cuộc tập trận của Tàu.
Khi mà TQ liên tiếp chiếm đảo của Phil, VN không bị và chắc chắn giữ vững tất cả 21 điểm đóng quân mà phải trả giá bằng bao nhiêu máu xương người lính trong thời gian để giữ được. Các nhà “rân chủ” tiếp tục ngợi ca Phil như một vị anh hùng dám đương đầu với gã khổng lồ TQ.
Khi mà hàng năm, tàu Hải Quân Nhân Dân đều ra biển thả những vòng hoa cho những người lính đã ngã xuống năm 1988. Các nhà dân chủ vẫn lướt facebook, kêu gào tưởng nhớ đến những người lính đó.
Chúng tôi không cần sự thương xót giả tạo, những chiêu trò dụ dỗ vớ vẩn của các nhà dân chủ kiểu đó.

Mũ Bạc

Nổi tiếng nhờ vào việc chửi lại dân tộc, quê hương mình còn bỉ ổi hơn cả các sao nổi tiếng nhờ khoe thân… Đó có thể là lời nhận xét thực tế và khách quan nhất về việc Blogger Huỳnh Ngọc Chênh được nhận giải "Công dân mạng" tại Pháp. 
Thời cổ đại Hy Lạp đã có một kẻ muốn nổi tiếng bằng cách đốt bỏ ngôi đền thiêng Artemis- một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại, cuối cùng nó cũng nổi tiếng, được nhiều người biết đến nhưng không ai gọi tên mà chỉ gọi là thằng đốt đền.
Có một thực trạng là ai đó muốn nổi tiếng nhanh chóng, thì cách nhanh nhất là chửi lại đất nước mình, dân tộc mình, mang cái điều chưa tốt của đất nước ra mà bêu xấu với quốc tế và coi đó là phổ biến. Điều này cũng giống như chửi lại cha mẹ mình vậy. Huỳnh Ngọc Chênh chính là kẻ như vậy.
Ở làng xã Việt Nam cũng có một người rất nổi tiếng đó là anh Mõ, kẻ lúc nào cũng vênh váo, rằng “tôi chưa trải chiếu các cụ chưa được ngồi” và, “một mình một chiếu thảnh thơi ngồi” đánh chén, khi cao giọng chả ai đối đáp lại, mà không hiểu rằng, ngồi ăn với Mõ, cãi nhau với Mõ là một điều sỉ nhục! Vậy thì thằng Mõ có nổi tiếng nhưng bị mất tên chỉ được gọi bằng cái danh từ chung: Mõ! Dưới góc nhìn này thì người Việt không lấy gì làm tự hào khi có thêm Chênh nhận giải.
Cũng cần nói thêm là cái giải như vừa rồi của tổ chức phóng viên không biên giới bắt đầu rộ lên cách đây một vài năm, đối tượng mà họ nhắm đến chính là những người tìm mọi cách để nổi tiếng như anh Mõ, bất chấp việc nổi tiếng bằng tai tiếng, hay bình bầu cho những phụ nữ của năm, những người vốn là công dân Việt, có tầm nhận thức khá trung bình, có đời sống vật chất đầy đủ, nhưng lại suy dưỡng về tâm hồn, cho nên mới có chuyện một số GS, TS, hay tướng tá về hưu hư hỏng, vì họ không có cái gốc vững, tự thân họ đã là những kẻ cơ hội bệnh hoạn.
Còn nói về giải thưởng. Thường thì ai đó có công hoặc xuất sắc về một lĩnh vực nào đó thì họ sẽ được đề xuất trao giải. Thế nhưng, chúng ta hiện giờ lại có cả giải ngược. Ví dụ như giải Nobel Ngược, hay giải cho những thảm họa.v.v.. Thiết nghĩ Huỳnh Ngọc Chênh chính là thuộc trường hợp thứ hai, tức là trao giải cho những thảm họa. Người phương Tây nói, “Sân khấu là thánh đường, người đến đó thì phải bỏ những đôi giày bẩn của mình ngoài cổng”. Tiêu chuẩn để có thể bước chân vào thánh đường phải là những người tử tế, những thiên thần, nhưng bây giờ rất nhiều ma quỷ cũng thích đến thánh đường khi muốn thể hiện chúng là thiên thần.
Tất nhiên cũng không loại trừ trường hợp, muốn nhận giải thì một trong các tiêu chuẩn đầu tiên mang tính bắt buộc là phải có “Đôi giầy bẩn” hoặc cái tương tự như cái “Bút bẩn”, cái “Miệng bẩn” hay chí ít cũng là cái “đầu bẩn”. Điều này cho thấy, bản thân cái người trao giải cũng phải là loại “cực bẩn” bất kể anh ta khoác áo Nhà nước hay Bộ Ngoại giao hay phi chính phủ.
Có thể thấy tiêu chuẩn “bẩn” được mặc định trong giải này. Cứ vào Google mà tra cứu, 100% những người nhận giải này đều là những người “bẩn” hoặc “cực bẩn”, hoặc có thể mở rộng hơn là những kẻ có vấn đề tâm thần. Nào là Tạ Phong Tần, Huỳnh Ngọc Chênh, Hoàng Vy, Người Buôn Gió (Bùi Thanh Hiếu). Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải), Phan Thanh Hải (Blog anh ba sài gòn), Vũ Quốc Tú (Blog Uyên Vũ), Ngô Thanh Tú (Blog Thiên Sầu), Lê Hồ Ngọc Điệp (Blog Trăng Đêm), rồi Phạm Thanh Nghiêm, Lê Thị Công Nhân hay Hoàng Thục Vy…Tất cả những người này đều có đặc điểm chung là chống lại dân tộc, thóa mạ dân tộc và sẵn sàng quay đầu bợ đỡ ngoại bang.
Sau khi tới “Thánh đường trên mạng” để nhận giải, Tạ Phong Tần, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Hoàng Vi đã trả lời phỏng vấn, “phát biểu cảm tưởng” trên một số cơ quan truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam như VOA, RFA, RFI, BBC… Riêng với Huỳnh Ngọc Chênh, nhân vật này tỏ ra rất hí hửng và đắc thắng với “vinh dự” của mình, nên đã đi quá xa khi phát biểu tại lễ trao giải “Công dân mạng 2013″, đã lớn tiếng vu cáo Nhà nước Việt Nam cản trở các blogger, hạn chế tự do báo chí, cho rằng ở Việt Nam không có báo chí tư nhân nên các thông tin đăng tải trên báo chí đều theo định hướng của Ðảng cầm quyền!
Tuy nhiên, những lời lẽ đó lại chứa đựng một mâu thuẫn mà chắc chắn chính Huỳnh Ngọc Chênh không thể lý giải. Bởi, nếu thật sự Việt Nam cản trở các blogger thì làm sao “lực lượng blogger” ở Việt Nam có thể ngày càng phát triển “lớn mạnh và rộng khắp” như chính Huỳnh Ngọc Chênh thừa nhận khi phát biểu tại buổi nhận giải? Làm sao hằng ngày Huỳnh Ngọc Chênh vẫn công bố bài trên blog của ông ta mà không bị gây khó khăn? Sao ông ta lại phủ nhận và nói xấu những điều mà chính ông ta đang được thụ hưởng? Tương tự như thế, khi trả lời phỏng vấn của BBC và RFA, Nguyễn Hoàng Vi và Tạ Minh Tú – em gái Tạ Phong Tần, đều bày tỏ niềm “vinh dự”, “tự hào” vì được trao “giải thưởng”; họ coi đây là nguồn “khích lệ” cho các “nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” tại Việt Nam! Họ làm thế khác gì làm Mõ làng để nổi tiếng?
Có một câu như thế này “người dại cởi truồng, người khôn xấu mặt”, không hiểu bố mẹ, gia đình của những người dùng scandal để nổi tiếng đó có ý kiến gì về con em mình không?/


Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013


Trung Đức

Đôi dép cao su là vật dụng đầy sáng tạo và độc đáo, chỉ ở đất nước Việt Nam mới có.Nó đã gắn bó thân thiết với cán bộ và chiến sĩ ta qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lăng. Dép lốp, hay còn gọi là dép cao su, sau này còn có tên là dép đúc ở thời bao cấp - được là ra từ lốp ( vỏ) ô tô cũ. Đôi dép lốp có hình dáng giống các đôi dép bình thường khác. Quai dép được làm bằng săm (ruột) xe ô tô cũ. Hai quai trước bắt chéo nhau, 2 quai sau song song vắt ngang cổ chân.Bề ngang mỗi quai khoảng 1.5cm. Quai đươc luồn xuống đế qua các vết rạch vừa khít với quai. Đế dép được làm bằng lốp xe ô tô hỏng hoặc đúc bằng cao su, mặt dưới có xẻ những mảnh hình thoi để đi cho đỡ trơn. Dép lốp cao su dễ làm, giá thành rẻ, tiện sử dụng trong mọi thời tiết nắng, mưa. Khi xỏ quai sau vào, dép sẽ ôm chặt lấy bàn chân và gót chân nên người đi sẽ ko bị mỏi. Người đi đường xa mang sẳn cái rút dép tự tạo bằng cật tre già hoặc bằng nhôm để phòng khi dép cao su bị tuột quai thì rút lại. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mỗi anh bộ đội được phát một đôi giày và một đôi dép cao su. Chiến sĩ ta thường sử dụng dép cao su để hành quân đánh giặc. đi giày vừa nặng vừa nhiều cái bất tiện, nhất là lúc hành quân qua địa hình rừng núi, gắp trời mưa thì giày là cái túi nước dưới chân, là nơi trú ngụ tốt nhất của các con vắt trong giày, các chiến sĩ vẫn cắn răng chịu đựng, ko dám dừng lại để bắt nó vì sợ lạc đội ngũ. Nếu dùng dép lốp để hành quân thì mọi việc đơn giản hơn nhiều. Trời nắng thì dép nhẹ, dễ vận động. Nếu trời mưa, đường sình lầy thì chỉ cần đổ ít nước trong bi đông ra rửa bớt bùn và tiếp tục đi. Vắt cắn chân thì cúi xuông nhặt, vứt sang lề đường. chẳng mất thời gian. Đôi dép cao su là biểu tượg giản dị, thủy chung trong 2 cuộc chiến tranh giải phóng đau thương mà oanh liệt của dân tộc ta. Dép cao su đã trở thành biểu tượng của sự giản dị, một đặc trưng của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam ( một trongnhững vật bất li thân). Nó được đặt bên di hài Hồ Chủ Tịch trong Lăng HCM ở Hà Nội. Nó xuất hiện trong các bài thơ, bài hát cách mạng ...

Đôi dép cao su còn gắn liền với cuộc sống thanh cao, giản dị của lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Bác Hồ nói chuyện với các nhà văn Tố Hữu, Phan Tứ, Trần Đình Vân.

Trong cuộc sống thường ngày, Bác Hồ thích vận động, đi lại; khi xong công việc, Bác hay đi bộ. Vào những năm kháng chiến trên khu Việt Bắc, các cơ quan quân, dân, chính, đảng đều đóng cách xa nhau qua những sườn đồi, con suối. Đi họp thường là đi bộ, phải trèo đồi, lội suối. Có những lúc chuyển nhà đi nơi khác, Bác vẫn thường cùng các anh cảnh vệ đi xa không ngần ngại.
Ngày ấy, Bác Hồ mang đôi dép cao su có quai hậu, đế lốp. Trên những con đường núi, đèo khúc khuỷu Bác thường chống gậy bước nhanh. Có lần cơ quan chuyển đến một địa điểm mới khá xa. Anh em bảo vệ đã chuẩn bị cho Bác đi ngựa.
Sáng sớm, ngựa đã chờ sẵn ở cửa rừng. Một đồng chí cảnh vệ mời Bác lên ngựa. Bác đi lại, cái túi dết đã treo chéo trên vai. Sáu cảnh vệ mặc áo quần màu chàm đã đeo trên vai lỉnh kỉnh nào ba lô quần áo, ống nước và những ruột tượng gạo căng phồng. Bác nhìn hết các đồng chí sắp hàng sau chân ngựa.
Bác nói:
- Chúng ta tất cả bảy người mà ngựa thì chỉ có một con. Bác đi ngựa sao tiện.
Mọi người đều mời Bác lên ngựa. Có người khẩn thiết:
- Chúng cháu còn trẻ. Bác đã cao tuổi, đường thì xa, chỉ lo Bác mệt.
Bác cười:
- Để cùng đi xem các chú có theo kịp Bác không nhé? Bác tính thế này: ngựa để thồ ba lô, gạo nước. Dọc đường ai mệt thì đi ngựa.
Đoàn người đi từ sáng sớm đến chập tối mà chưa đến địa điểm mới. Trên đường đi, thỉnh thoảng Bác lại kể chuyện vui, và thật rõ là cụ già còn sức trẻ hơn các thanh niên. Cả ngày rong ruổi, các cảnh vệ bối rối day dứt lại khẩn khoản mời Bác lên ngựa.
Bác ôn tồn bảo:
- Bác mệt thì các chú cũng mệt. Ta vẫn cùng đi bộ cho vui, sắp đến nơi rồi.
Thế là hết con đường núi quanh co ấy, cuối cùng rồi cũng đến. Bác vẫn thở đều không thấm mệt. Bác nói:
- Đó là nhờ Bác ngày nào cũng đi bộ, nhờ tập luyện mà Bác theo kịp các cháu thanh niên.
Vào những năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác về làm việc ở Phủ Chủ Tịch. Bác ở nhà sàn, gần đấy có con đường dẫn ra ao cá và ngôi nhà của bộ phận bếp núc. Hàng ngày sau giờ làm việc, Bác thường đi bộ từ nhà sàn theo con đường vòng quanh ao cá để sang phòng ăn.
Có một hôm, sắp hết giờ làm việc buổi trưa, trời bỗng nhiên đổ mưa. Thấy vậy, đồng chí phục vụ lên mời Bác ở lại nhà sàn để anh em đưa cơm sang cho Bác.
- Bác đã cao tuổi mà để Bác đi nhỡ mưa to thì anh em phục vụ không yên tâm.
Bác liền bảo đồng chí phục vụ:
- Bác vẫn đi khỏe, không việc gì đâu. Thế chú muốn một mình Bác đỡ vất vả mà để nhiều người phải vất vả vì Bác?
Lời Bác nói rất nhẹ nhàng nhưng kiên quyết. Thấy thế đồng chí phục vụ nhìn thấy Bác vẫn ngồi làm việc, lui ra đi chuẩn bị bữa ăn cho Bác.
Hết giờ làm việc, Bác xếp tài liệu báo chí gọn gàng xắn cao quần, cầm ô, chống gậy sang nhà bếp ăn trưa như thường lệ.
Gần như suốt đời Bác, Bác mang dép. Đôi dép của Bác đã được đồng bào của ta nhìn thấy mỗi khi được gặp Bác. Khách bốn phương cũng đã chiêm ngưỡng đôi dép cao su hết sức giản dị của Bác. Đã có những nhà văn nước ngoài viết về đôi dép của Bác.
Nhưng có lẽ vào năm 1970, một năm sau ngày Bác đi xa, nhà thơ Nam Yên đã viết một bài thơ lời lẽ dung dị nhưng rất mực thắm thiết, gợi lên cảm xúc thương mến Bác vô bờ. Bài thơ được nhạc sĩ Vân An phổ nhạc:
"Dép Bác, đôi dép cao su
Bác đi từ ở chiến khu Bác về
Phố phường trận địa
Nhà máy đồng quê
Đều in dấu dép Bác về, Bác ơi,
Dép này, Bác trải đường dài
Dép này, Bác mở tương lai nước nhà
Đường đi chiến đấu gần xa
Dấu dép cha già dẫn lối con đi."
Bác Hồ là biểu trưng của tất cả những gì dung dị, mang một bản sắc dân tộc Việt Nam nhuần nhị, sâu xa nhất. Ngay cả quần áo, đồ dùng tiện nghi của Bác cũng đơn sơ, mộc mạc trong đó đôi dép của Bác trở thành một hình tượng thân quen, thắm thiết đối với chúng ta, trở thành huyền thoại với bạn bè năm châu.
Ca khúc "Đôi dép Bác Hồ" đã chắp cánh cho bài thơ một nguồn cảm xúc mới sâu đậm hát lên tình yêu của nhân dân ta đối với Bác.
Giờ đây chiến tranh đã qua đi, chúng tôi và con cháu chúng ta không còn phải đi những đôi dép lốp. Mong sao những ngày tháng gian khổ qua đi vĩnh viễn và chiến tranh không bao giờ trở lại trên đất nước này, để những đôi dép lốp chỉ còn là những kỷ niệm về quá khứ, cho ta thêm yêu quý cuộc sống hôm nay. 
Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013
---Mặt trời hồng---

Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt kết quả, Mỹ và các thế lực thù địch đã thay đổi giải pháp chiến lược, thực hiện bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, song mục tiêu nhất quán của chúng là không thay đổi, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hoá”, “vô hiệu hoá quân đội” tiến tới xoá bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Bề ngoài Mỹ thực hiện một loạt các bước đi: “ngoại giao thân thiện”, “chi phối đầu tư”, “khoét sâu nội bộ”, thực chất là chúng âm mưu từng bước tác động lật đổ chính quyền ta. Có thể gọi những bước đi ấy là mở đầu cho chiến lược “diễn biến hoà bình”.
Mỹ ráo riết thực hiện chiến lược ấy trên tất cả mọi lĩnh vực: chính trị, kin tế, văn hoá- xã hội, đối ngoại và an ninh quốc phòng. Dù ở lĩnh vực nào, chúng cũng sử dụng những chiêu bài tinh vi, xảo quyệt nhất nhằm gây ra những hậu quả và thiệt hại to lớn đối với ta.
Trên lĩnh vực quốc phòng an ninh, chúng gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phá hoại sức mạnh quốc phòng an ninh nước ta; tạo cớ cho các hành động can thiệp bằng vũ lực khi có thời cơ.
Bằng các thủ đoạn và các hoạt động ngấm ngầm công khai, một mặt chúng tăng cường nuôi dưỡng, tiếp tay cho các hoạt động chống phá của các tổ chức phản động, các phần tử cơ hội chính trị bất mãn chế độ ở trong nước, đưa lực lượng phản động, chống đối trong số người Việt lưu vong ở nước ngaòi thâm nhập vào nội địa; mặt khác, tăng cường các hoạt động vi phạm chủ quyền vùng biển, biên giới, uy hiếp an ninh của nước ta. Nếu chúng ta xử lý vấn đề không tốt thì các thế lực thù địch sẽ lợi dụng, tạo cớ để biến thành xung đột vũ trang, thậm chí thành chiến tranh cục bộ chống nước ta.
Âm mưu “phi chính trị hoá”, “vô hiệu hoá” quân đội và công an là âm mưu cơ bản, nội dung chính yếu trong chiến lược chống phá lực lượng vũ trang ta của các thế lực thù địch. Chúng mong muốn, làm cho quân đội công an ta biến chất, hoặc ít nhất tạo nên sự dao động nhất định về tư tưởng, sự hoài nghi, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự quản lý của Nhà nước ở một số bộ phận cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang.
Chúng tăng cường tiếp xúc, gặp gỡ với một số cán bộ quân đội và công an của ta thông qua việc trao đổi các đoàn quân sự, quân đội và công an thăm viếng lẫn nhau. Đề nghi ta phải tham gia tập trận chung, giúp nhau huấn luyện “chống khủng bố”, tham gia tổ chức quân sự, an ninh chung nào đó. Thông qua đó, chúng nắm chắc hơn quân đội và công an của ta, tác động tư tưởng đòi xây dựng lực lượng theo hướng “chuyên nghiệp”, “quân đội nhà nghề”, tìm mọi cách móc nối đe doạ, mua chuộc cán bộ, nhất là cán bộ cao cấp trong quân đội và công an để cài cắm lực lượng, tạo thời cơ hành động.
“Diễn biến hoà bình” là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ nhằm thủ tiêu phong trào cộng sản quốc tế, thủ tiêu các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Những dạng chống phá của địch được rút ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam phải được coi là con đường mà đế quốc Mỹ triệt để lợi dụng để chống phá nước ta.
Hơn bao giờ hết vấn đề đoàn kết trong Đảng, vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh” phải được thực hiện thật tốt. Chính việc thực hiện tốt mục tiêu trên sẽ là bức tường thành vững chắc đối phó có hiệu quả nhất sự tấn công của chiến lược “diễn biến hoà bình”./.

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013
 Hải An
Nhân Lễ kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng trở về và tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh tại Nhà tù Phú Quốc (15-3-1973 - 15-3-2013)

Trong chiến tranh Việt Nam, có một nhà tù tàn khốc nhất trong các loại nhà tù trên thế giới lại ít được biết đến một cách có hệ thống, đầy đủ là nhà tù Phú Quốc. Nơi đây, Tên tuổi của Phú Quốc gắn liền với những trang sử hào hùng. Khi nhà Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh bại, Nguyễn Ánh đã 3 lần chạy ra đảo Phú Quốc nương náu. Sau khi 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ mất, Anh hùng Nguyễn Trung Trực rút về hoạt động ở 3 tỉnh miền Tây. Tháng 6/1868, ông cùng nghĩa quân rút về Hòn Chông rồi ra Phú Quốc. Nhân dân và núi rừng Phú Quốc đã che chở người anh hùng, giúp ông tổ chức lại lực lượng, đánh địch nhiều trận ác liệt tại Hàm Ninh, Cửa Cạn. Nhưng bị chia cắt với đất liền do đường giao thông hiểm trở, nghĩa quân ngày càng hao mòn, lương thực thiếu thốn. Cuối cùng, nhân dân Phú Quốc đau lòng chứng kiến cảnh Nguyễn Trung Trực bị quân Pháp bắt, đem về Rạch Giá xử chém ngày 27/10/1868. Trước lúc hy sinh, Nguyễn Trung Trực đã nói một câu đầy khí phách anh hùng: “Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam thì dân Nam mới hết người đánh Tây”.
Lời nói của Nguyễn Trung Trực như một câu sấm truyền, bởi suốt hơn một thế kỷ sau ngày máu ông đổ xuống cho quê hương, Phú Quốc là nơi ghi dấu bao trang sử hào hùng của hàng ngàn chiến sĩ yêu nước. Vượt qua mọi hình thức tra tấn tàn bạo, vượt qua mọi chế độ hà khắc, các chiến sĩ - tù binh Phú Quốc đã viết tiếp những trang sử sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng...
Chưa có một nhà tù nào đặc biệt như ở Phú Quốc, bởi bản thân hòn đảo này cũng chính là một căn cứ địa cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân Phú Quốc đã đối mặt với muôn vàn khó khăn gian khổ, lực lượng mỏng, vũ khí thô sơ, xa đất liền, xa sự lãnh đạo của tỉnh, có lúc bị cô lập gần 2 năm trời do địch phong tỏa. Nhưng quân dân Phú Quốc vẫn kiên cường đương đầu với quân xâm lược, đặc biệt là đế quốc Mỹ với lực lượng quân đội hùng hậu, vũ khí và phương tiện chiến tranh thuộc loại hiện đại nhất thế giới. Hòn đảo ngọc này đã phải chịu đựng nhiều cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn của quân Mỹ, có cả hải lục không quân, thọc sâu vào căn cứ cách mạng.
 Bị bao vây và bị đánh phá ác liệt, phong trào kháng chiến ở Phú Quốc không tránh  khỏi những đau thương, tổn thất nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Kiên Giang và Huyện ủy Phú Quốc, nhân dân trên hòn đảo này kiên cường đứng dậy, bền bỉ phục hồi lực lượng, liên tục đánh địch, phá lỏng thế kềm kẹp của địch, không chỉ thu vũ khí tự trang bị cho mình mà còn đưa bộ đội về tiếp sức với đất liền.
Với địa hình đặc biệt và tính cách anh hùng, dẫu đất rộng người thưa, đường giao thông cách trở, Phú Quốc đã che chở cho hàng trăm tù nhân khi vượt thoát, vẫn tìm cách liên lạc, nuôi dưỡng cho các phong trào đấu tranh ở Trại giam tù binh Phú Quốc. Những trang sử vàng của Phú Quốc đã ghi lại những cuộc “đánh chiếm” vô tiền khoáng hậu này, ngay từ thời chống Pháp: Tháng 9/1949, “bộ đội Phú Quốc” từ hòn Sơn Rái vượt biển, đổ bộ lên đánh chiếm hãng Cây Dừa ở Nam Đảo, thu 40 súng. Năm 1948, Phú Quốc đưa một trung đội vào đất liền, bổ sung cho lực lượng khu...
Nhà tù Phú Quốc có một lịch sử vô cùng đặc biệt. Vào cuối năm 1949 đầu năm 1950, quân Quốc dân đảng Trung Hoa bị Quân giải phóng Trung Quốc đánh bại, phải chạy dạt sang biên giới phía bắc Việt Nam. Đám tàn quân này có trên 3 vạn người, được Pháp đưa ra trú ngụ ở phía nam đảo Phú Quốc. Sau khi Tưởng Giới Thạch rời khỏi Đại lục, tháo chạy ra đảo Đài Loan và tuyên bố hòn đảo này thuộc sự kiểm soát của Quốc dân đảng, đám tàn quân này trở về với chủ cũ.
Lợi dụng một số nhà cửa có sẵn của trại tàn binh, quân Pháp lập một trại giam tù binh trên một diện tích gần 40 ha, gồm 4 khu giam A, B, C, D; được gọi là “Căng Cây Dừa” (Trại Cây Dừa). Những chiến sĩ cách mạng bị địch bắt ở các chiến trường Trung, Nam, Bắc bị chúng tập trung đưa ra trại giam này ở Phú Quốc, khoảng 14.000 người, phần đông từ “Căng” Đoạn Xá (Hải Phòng), được chở ra Phú Quốc bằng tàu thủy.
 Ngay từ những ngày đầu tiên đến “Căng Cây Dừa”,  các đảng viên trong các khu nhà giam đã liên lạc với nhau, tổ chức được các chi bộ, Đảng bộ bí mật lãnh đạo anh em tù binh đấu tranh với địch, từ việc cử đại diện tù binh, tổ chức, lao động, sinh hoạt đến đấu tranh chống địch khủng bố, đàn áp, chống dụ dỗ lôi kéo bắt lính trong tù, tổ chức vượt ngục... Chỉ hơn một năm ở trại giam đã có 99 người chết, gần 200 người vượt ngục. Một số anh em thoát ra, được tham gia chiến đấu và công tác ở đảo, góp phần làm nên những chiến thắng của quân dân Phú Quốc. Một số về chiến đấu và công tác ở đất liền. Tháng 7/1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Pháp đã trao trả cho phía cách mạng hầu hết tù binh ở trại này.
Cuối năm 1955, trong lúc giao thời “thay thầy đổi chủ”, ngụy quyền Sài Gòn tranh thủ lập một trại giam cũng ở địa điểm “Căng Cây Dừa” cũ, trên một diện tích rộng 4 ha, gồm có nhà giam tù nam, nhà giam tù nữ, nhà giam phụ lão, được chúng đặt tên là “Trại huấn chính Cây Dừa”, có lúc gọi là “Nhà lao Cây Dừa”. Đầu tháng 1/1956, ngụy quyền Sài Gòn đưa 598 người tù, quê quán từ 33 tỉnh ở trại “Trung tâm huấn chính Biên Hòa” đến đề lao Gia Định, rồi đưa  xuống chiếc tàu vận tải của hải quân, mang tên Hắc Giang, rời bến Sài Gòn ngày 2/1/1956.
Cũng chính nơi đây, những tù binh chiến tranh tại Trại giam tù binh Phú Quốc đã phải chịu những hình phạt, tra tấn như đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố chế nước sôi hoặc đổ lửa than, ném vào chảo nước sôi, thiêu sống, chôn sống...Trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6/1967 đến 3/1973) trại giam tù binh Phú Quốc, có hơn 4.000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật tàn phế.
 Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc có tất cả là 12 khu (năm 1972) được đánh số từ khu 1 đến khu 12. Riêng khu 13, 14 được xây dựng thêm vào cuối năm 1972. Mỗi khu trại giam có khả năng chứa khoảng 3000 tù nhân. Năm 1972, có khoảng 12x 3000 = 36 000 tù nhân. Mỗi khu trại giam lại được chia làm nhiều phân khu. Thường thì có 4 phân khu, trong 1 khu. Một phân khu chứa được 950 tù binh. Riêng phân khu B2 dành riêng để giam giữ các sĩ quan. Tù binh có cấp bậc lớn nhất là Thượng tá. Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc do 3 tiểu đoàn quân cảnh (7, 8, 12) canh giữ. Ngoài ra, Phú Quốc cũng có một trại giam tù hình sự, giam giữ những tù nhân thường phạm bị kết án 10 năm trở lên, ở thị trấn Dương Đông, mặt tây của đảo.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tại huyện đảo Phú Quốc, Căng Cây Dừa (1953-1954), Trại Huấn chính Cây Dừa (1955-1957), Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam-Phú Quốc (1967-1973) là nơi địch giam cầm, đọa đày các chiến sĩ cách mạng với quy mô, số lượng lớn nhất ở Việt Nam.
Giai đoạn 1967-1973, nhà tù này đã giam giữ gần 40 nghìn lượt tù binh là những chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang và cán bộ cách mạng Dân-Chính-Đảng. Phần lớn những chiến sĩ cách mạng bị tù đày ở đây đã vượt qua cái chết, vượt qua mọi sự đọa đày, dã man của kẻ thù cho đến ngày chiến thắng trở về, mặc dù mang trên mình nhiều thương tật. Có hơn 4.000 người đã bị kẻ địch sát hại, anh dũng ngã xuống với khí phách hiên ngang, ý chí cách mạng kiên cường, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc.
Chính trong hoàn cảnh ấy, những tù binh cộng sản giữa kẻ thù hung dữ, lúc nào cũng thẳng tay hành hạ, đàn áp tù binh, thậm chí đến chết đã thể hiện được ý chí, bản lĩnh cách mạng kiên cường. Với tuổi đời của chỉ mới mười tám, đôi mươi, rất ít đồng chí hơn ba mươi tuổi nhưng với sự lãnh đạo khéo léo tài tình của đảng ủy từng phân khu giam, đã đoàn kết thành một khối vững chắc, kiên cường chiến đấu trong thế trận mới. Một thế trận mà kẻ địch thì nham hiểm, độc ác, tàn bạo và sẵn sàng xả đạn vào anh em ta. Còn những tù binh cộng sản chỉ có tay không với lòng quả cảm và lý tưởng cách mạng cao cả, sẵn sàng nhận mọi sự hy sinh mà không tính toán thiệt hơn.
Các Chi bộ do tù binh tự thành lập theo kiểu du kích. Thường anh em dựa vào sự đã quen biết nhau từ trước, ở cùng quê hoặc cùng đơn vị để xác lập lòng tin, biết nhau là đảng viên rồi mới rỉ tai nhau lập một tổ, đủ 3 đảng viên thì nâng thành Chi bộ hoạt động phải rất bí mật và khôn khéo. Trong một nhà giam có thể có nhiều Chi bộ nhưng Chi bộ nào chỉ có thể biết đảng viên trong Chi bộ đó. Lúc đảng viên họp thực ra là ngồi tụm nhau ở một góc nhà giả đánh cờ hay đi ra ngoài hàng rào giả vờ đi tiểu để hội ý chớp nhoáng. Chỉ có Bí thư Chi bộ mới biết ai là Bí thư Đảng ủy. Người Bí thư Đảng ủy thường không để lộ diện trong các cuộc đấu tranh hay sự kiện nào. Khi kẻ thù phát hiện ra một chút manh mối nào là diệt ngay người đứng đầu, lôi đi tra tấn, truy tìm tổ chức của ta.
 Đại bộ phận tù binh bị đẩy vào Nhà lao Phú Quốc vẫn giữ trọn lời thề danh dự thứ ba “Nếu bị địch bắt, dù trong trường hợp nào cũng giữ vững khí tiết là chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam … quyết không cung khai phản bội”. Những cuộc đấu tranh và bị đàn áp đẫm máu ở nhà tù xảy ra thường xuyên. Chẳng hạn vào năm 1965, lần ấy chúng bắt anh em tập hợp chào cờ Ngụy và hô đả đảo cộng sản. Anh em không chịu hô thế là chúng dùng dùi cui, báng súng đánh tới tấp, anh em đánh trả lại, chúng xả súng giết chết 78 người. Đầu tháng 9/1969 ở khu A4 biết được tin Bác Hồ mất, sáng hôm sau ngay trước cửa trại xuất hiện một băng vải đen rộng 10cm dài 200 cm viết chữ trắng “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Bọn giám thị bị bất ngờ nhưng chúng cũng chỉ dám lẳng lặng gỡ xuống rồi lặng lẽ đem đi chứ không gầm gào như mọi khi. Ít ngày sau bên khu sĩ quan ném đá sang báo tin, anh em bên ấy đã chích máu vẽ Bác Hồ ngay trên tường thiếc. Sau đó bọn giám thị bắt tù cạo rửa, tưới nước thế nào cũng không sạch, làm cách nào thì đôi mắt và hàm râu Bác vẫn hiện ra.
Nhiều anh em lúc mới bước chân vào nhà tù đã nung nấu ý định trốn tù. Có những vụ từ trong tự thoát ra. Có những vụ được lực lượng vũ trang bên ngoài hỗ trợ. Các vụ vượt ngục ở Nhà tù Phú Quốc có ba dạng trốn là: Vượt rào, đánh lính khi áp giải để chạy trốn,  đào hầm thoát ra ngoài. Dụng cụ đào hầm tự chế bằng nắp cà mèn, cán muỗng. Cách đào phân công ba người một ca không mặc quần áo và đào vào ban đêm. Việc đào hầm không khó, khó nhất là làm sao giữ được bí mật. Vì vậy các đồng chí lên đầy đủ kế hoạch như lượng đất phải ép vào hai bên thành của hầm hoặc lợi dụng trời mưa đem đi đổ để xóa dấu vết, quan sát nếu có chỉ điểm thì trừ khử ngay. Theo tổng kết có 42 vụ vượt ngục, trong đó có 16 vụ vượt rào, 15 lần đi riêng lẻ, 7 cuộc đánh quân cảnh, 4 lần đào hầm. Hơn 400 người ra đi nhưng chỉ có 239 người về được căn cứ kháng chiến .
Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết,  Nhà tù Phú Quốc bị giải tán. Tù binh được trao trả. Những câu chuyện khủng khiếp về một “địa ngục trần gian” giữa biển khơi vẫn còn trong ký ức không thể nào quên và những gì diễn ra với số phận của hơn 40.000 tù binh nơi đây là không thể kể xiết. Một khúc bi tráng về tù binh Nhà tù Phú Quốc ghi vào lịch sử. Chính vì vậy việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích này là việc làm rất cần thiết và quan trọng.
Thực hiện Hiệp định Paris, từ ngày 15-3-1973, chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ buộc phải thực hiện việc trao trả tù binh của Nhà tù Phú Quốc và cũng là ngày đánh dấu “Địa ngục trần gian” tại hòn đảo xinh đẹp này vĩnh viễn bị xóa bỏ.
****
**
Một thời chiến tranh khốc liệt, nhưng trong con tim của mỗi chúng ta lại có lý tưởng cao đẹp và trong sáng. Trong cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc, có người đã hy sinh, có người bị thương và có người bị địch bắt. Khi cầm súng những tù binh Cộng sản đã mưu trí, dũng cảm, chiến đấu ngoan cường, lập được nhiều chiến công hiển hách. Lúc bị địch bắt, các đồng chí ta vẫn một dạ một lòng kiên trung, bất khuất, giữ vững khí tiết cách mạng”.
Những cựu tù binh cộng sản hôm nay tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, là tấm gương sáng cho thế hệ hôm nay và mai sau noi theo./.

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013
 Người Hà Nội

Vừa rồi được mấy người bạn thông báo cho tôi biết về một số trang của bọn phản động vì thế tôi tôi có ghé qua một số blog có tên rất kêu như anhbasam, nguyentruongthuy, danoan2012  để xem thực hư thế nào, sau khi đọc một vài bài viết bức xúc bản thân không thể kìm chế nổi sự tởm lợm bọn chúng đến sởn da gà, nên tôi phải viết ra vài lời để giải tỏa, và cũng là để mọi người biết về sự tồn tại của mấy thằng “rân chủ“ thời nay.



Tôi nhận thấy rằng tất cả những blog này đều có các bài viết nhằm chung 1 mục đích duy nhất, đó là nói xấu Đảng và Nhà nước ta, bôi nhọ các lãnh tụ cách mạng, phỉ báng đồng bào và lịch sử dân tộc Việt Nam. 
Hầu hết những bài viết trên các blog này đều lấy tư liệu từ các nguồn tin không đáng tin cậy, đưa ra các thông tin hết sức mơ hồ, không được kiểm chứng, ví dụ như mấy vụ ở đồ sơn hải phòng, nào là chính quyền không cho nhà ông vươn xây nhà vệ sinh, nào là việt cộng bán nước, dâng biển cho giặc tàu, nào là đa đảng, tam quyền phân lập, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang.....  hoặc là copy rồi paste các bài viết của nhau. Xin nói rõ tất cả các bài viết, comment ở mấy blog nêu trên đều đưa tin 1 chiều theo hướng chống phá Nhà nước ta, có tính kích động các phần tử bất mãn chế độ.
Tôi không thể tưởng tượng nổi rằng trong số chúng ta, những con người nói tiếng Việt, viết chữ Việt lại có thể đưa ra những lời phỉ báng dân tộc Việt một cách ghê tởm như vậy được. Nếu 1 lúc nào đó bạn vào mấy blog này đọc được những bản tin vu khống bịa đặt, thậm chí là chửi rủa, với mục đích chống phá đảng và nhà nước, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ thì thực sự là một người dân đất việt sẽ không khỏi bức xúc.
Và xin thưa là không chỉ mấy cái blog này  đâu nhé, còn nhiều những blog nữa, thậm chí chúng tạo ra cả những nhóm, những hội trên facebook để chống phá nữa, đều có những thông tin rất sai lệch về tình hình chính trị nước ta. Hiện nay, lợi dụng sự tự do ngôn luận trên các diễn đàn, các blog, nhiều phần tử phản động, cơ hội chính trị,bất mãn với chế độ, no cơm rửng mỡ, hoặc vì đồng tiền bẩn của các thế lực thù địch như mỹ chả hạn liên tục đưa ra các luận điệu xuyên tạc sự thật đất nước ta. Chúng cho rằng blog là nơi thích viết gì thì viết, cũng như việc chúng ở nhà thích nói gì thì nói, kể cả việc chửi bới ba mẹ sinh ra mình.
Theo ý kiến của riêng tôi ở đây ta phải xem xét các phần tử phản phé này là những ai, có thể chia làm 4 loại.
Loại thứ nhất là những phần tử cơ hội chính trị, loại này được sự chu cấp của các thế lực thù địch chống phá đảng và nhà nước với mục tiêu thâm căn cố đế là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở việt nam, loại người này vì tiền mà chạy theo địch,  quay lưng lại với dân tộc, sẵn sàng chửi rủa, lơi dụng những sai lầm trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước để chống phá. Loại này là loại đê tiện nhất trong các thể loại đê tiện
Loại thứ hai là phần tử mới nổi, tôi cho rằng đa phần những phần tử mối nổi này đều là những kẻ a dua, theo đuôi mà thôi, phần lớn những tên này đều sinh ra trong các gia đình có giáo dục, có điều kiện kinh tế, học hành, có đứa còn đi du học, có bằng cấp. Tuy nhiên chúng mắc 1 thứ bệnh thích nổi tiếng, thích mình là trung tâm, là cái rốn của vũ trụ, đây chính là 1 dạng của bệnh mà y học gọi là tâm thần phân liệt,. Có người nhờ tài năng thiên bẩm như hát hay, đàn giỏi, đá bóng… trở thành những sao, được nhiều người mến mộ. Còn những kẻ mà tôi đề cập trên thì vấn đề ở đây đó là chúng không thực sự có 1 chút tài năng nổi trội nào cả, mang một mặc cảm "thua bạn kém bè", nhưng lại thích được nổi tiếng, được mọi người chú ý, và chúng cho rằng con đường nhanh nhất đó là làm “nhà cách mạng, nhà dân chủ”, ví dụ như gã Nguyễn Tiến Trung, hay gã Blacky chẳng hạn (trên blog của gã, bị comment chửi rất nhiều mà gã vẫn cứ cười được, bó tay với thằng điên này). 
Lọai thứ ba là những kẻ bất mãn chế độ. Những kẻ này là ai, theo tôi, đầu tiên chúng cũng thuộc dạng thứ nhất, tức là thích được nổi tiếng, sau đó vì bị xã hội lên án, nên trở nên căm ghét xã hội, căm ghét chế độ. Hoặc là cho rằng mình phải "bố" của xã hội, là người khai sáng, chúng cho rằng những người không theo chúng, hay chưa biết đến chúng là ai thì vẫn còn "ngu", cần được "mở mang đầu óc". Đa phần trong số chúng không có công ăn việc làm ổn định, hoặc đã có việc nhưng do tham gia các hoạt động chống phá Nhà nước nên bị đuổi việc, điển hình như là tên Nguyễn Văn Đài hay Lê Thi Công Nhân. Các cụ xưa có câu “nhàn cư vi bất thiên”, trong trường hợp áp dụng với bọn này quả không sai. Loại này nếu dùng đúng từ để chỉ thì đó là những kẻ lưu manh, cơ hội chính trị.
Còn loại cuối cùng, loại này là cứng đầu nhất, không thể dùng pháp luật để cảm hóa được, loại này “tiến hóa” từ loại 2, thâm căn cố đế. Đây là dạng bảo thủ, cổ cựu, khó dạy bảo (tôi không muốn đưa tên ra, vì dù sao chúng cũng già rồi). Nếu 1 “nhà cách mạng, nhà dân chủ” nào đó có đọc bài viết này của tôi thì xin hỏi các ông định nghĩa thế nào là tự do, dân chủ, thế nào là tự do ngôn luận ??? Và cũng xin đừng lôi ra các định nghĩa theo kiểu Mỹ, chả có mấy quốc gia như Mỹ đâu, thích thì cút sang Mỹ mà đào giun nhé.
Cách xử lý với những phần tử này rất khó, cho đi tù thì chúng càng bất mãn hơn, với lại dễ bị các phần tử kích động nước ngoài lợi dụng, mà quản lý chúng ngoài xã hội cũng rất khó, đây là 1 bài toán khá nan giải.
Mặc dù vậy đêm nay cũng là 1 đêm rất có ý nghĩa vì tôi cảm nhận thấy 1 không khí sục sôi của thanh niên yêu nước, họ đã căm phẫn trước những hành động, lời nói của bọn bất mãn chế độ. Xin hãy cùng đoàn kết trong cuộc chiến tiêu diệt những kẻ lưu manh, cơ hội chính trị, những cái đầu đất, ngu dốt, thủ cựu, bảo thủ 

Blogger templates

Blogger news

Blogroll

Archive

Total Pageviews

Tổng số lượt xem trang

Ad

Follow us on Facebook :P

Your Page links

Được tạo bởi Blogger.

Blog Archive

Followers

Hot Topics