Hải An
Nhân Lễ kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng trở về và tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh tại Nhà tù Phú Quốc (15-3-1973 - 15-3-2013)
Trong chiến tranh Việt Nam, có một nhà tù tàn khốc nhất trong các loại nhà tù trên thế giới lại ít được biết đến một cách có hệ thống, đầy đủ là nhà tù Phú Quốc. Nơi đây, Tên tuổi của Phú Quốc gắn liền với những trang sử hào hùng. Khi nhà Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh bại, Nguyễn Ánh đã 3 lần chạy ra đảo Phú Quốc nương náu. Sau khi 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ mất, Anh hùng Nguyễn Trung Trực rút về hoạt động ở 3 tỉnh miền Tây. Tháng 6/1868, ông cùng nghĩa quân rút về Hòn Chông rồi ra Phú Quốc. Nhân dân và núi rừng Phú Quốc đã che chở người anh hùng, giúp ông tổ chức lại lực lượng, đánh địch nhiều trận ác liệt tại Hàm Ninh, Cửa Cạn. Nhưng bị chia cắt với đất liền do đường giao thông hiểm trở, nghĩa quân ngày càng hao mòn, lương thực thiếu thốn. Cuối cùng, nhân dân Phú Quốc đau lòng chứng kiến cảnh Nguyễn Trung Trực bị quân Pháp bắt, đem về Rạch Giá xử chém ngày 27/10/1868. Trước lúc hy sinh, Nguyễn Trung Trực đã nói một câu đầy khí phách anh hùng: “Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam thì dân Nam mới hết người đánh Tây”.
Lời nói của Nguyễn Trung Trực như một câu sấm truyền, bởi suốt hơn một thế kỷ sau ngày máu ông đổ xuống cho quê hương, Phú Quốc là nơi ghi dấu bao trang sử hào hùng của hàng ngàn chiến sĩ yêu nước. Vượt qua mọi hình thức tra tấn tàn bạo, vượt qua mọi chế độ hà khắc, các chiến sĩ - tù binh Phú Quốc đã viết tiếp những trang sử sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng...
Chưa có một nhà tù nào đặc biệt như ở Phú Quốc, bởi bản thân hòn đảo này cũng chính là một căn cứ địa cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân Phú Quốc đã đối mặt với muôn vàn khó khăn gian khổ, lực lượng mỏng, vũ khí thô sơ, xa đất liền, xa sự lãnh đạo của tỉnh, có lúc bị cô lập gần 2 năm trời do địch phong tỏa. Nhưng quân dân Phú Quốc vẫn kiên cường đương đầu với quân xâm lược, đặc biệt là đế quốc Mỹ với lực lượng quân đội hùng hậu, vũ khí và phương tiện chiến tranh thuộc loại hiện đại nhất thế giới. Hòn đảo ngọc này đã phải chịu đựng nhiều cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn của quân Mỹ, có cả hải lục không quân, thọc sâu vào căn cứ cách mạng.
Bị bao vây và bị đánh phá ác liệt, phong trào kháng chiến ở Phú Quốc không tránh khỏi những đau thương, tổn thất nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Kiên Giang và Huyện ủy Phú Quốc, nhân dân trên hòn đảo này kiên cường đứng dậy, bền bỉ phục hồi lực lượng, liên tục đánh địch, phá lỏng thế kềm kẹp của địch, không chỉ thu vũ khí tự trang bị cho mình mà còn đưa bộ đội về tiếp sức với đất liền.
Với địa hình đặc biệt và tính cách anh hùng, dẫu đất rộng người thưa, đường giao thông cách trở, Phú Quốc đã che chở cho hàng trăm tù nhân khi vượt thoát, vẫn tìm cách liên lạc, nuôi dưỡng cho các phong trào đấu tranh ở Trại giam tù binh Phú Quốc. Những trang sử vàng của Phú Quốc đã ghi lại những cuộc “đánh chiếm” vô tiền khoáng hậu này, ngay từ thời chống Pháp: Tháng 9/1949, “bộ đội Phú Quốc” từ hòn Sơn Rái vượt biển, đổ bộ lên đánh chiếm hãng Cây Dừa ở Nam Đảo, thu 40 súng. Năm 1948, Phú Quốc đưa một trung đội vào đất liền, bổ sung cho lực lượng khu...
Nhà tù Phú Quốc có một lịch sử vô cùng đặc biệt. Vào cuối năm 1949 đầu năm 1950, quân Quốc dân đảng Trung Hoa bị Quân giải phóng Trung Quốc đánh bại, phải chạy dạt sang biên giới phía bắc Việt Nam. Đám tàn quân này có trên 3 vạn người, được Pháp đưa ra trú ngụ ở phía nam đảo Phú Quốc. Sau khi Tưởng Giới Thạch rời khỏi Đại lục, tháo chạy ra đảo Đài Loan và tuyên bố hòn đảo này thuộc sự kiểm soát của Quốc dân đảng, đám tàn quân này trở về với chủ cũ.
Lợi dụng một số nhà cửa có sẵn của trại tàn binh, quân Pháp lập một trại giam tù binh trên một diện tích gần 40 ha, gồm 4 khu giam A, B, C, D; được gọi là “Căng Cây Dừa” (Trại Cây Dừa). Những chiến sĩ cách mạng bị địch bắt ở các chiến trường Trung, Nam, Bắc bị chúng tập trung đưa ra trại giam này ở Phú Quốc, khoảng 14.000 người, phần đông từ “Căng” Đoạn Xá (Hải Phòng), được chở ra Phú Quốc bằng tàu thủy.
Ngay từ những ngày đầu tiên đến “Căng Cây Dừa”, các đảng viên trong các khu nhà giam đã liên lạc với nhau, tổ chức được các chi bộ, Đảng bộ bí mật lãnh đạo anh em tù binh đấu tranh với địch, từ việc cử đại diện tù binh, tổ chức, lao động, sinh hoạt đến đấu tranh chống địch khủng bố, đàn áp, chống dụ dỗ lôi kéo bắt lính trong tù, tổ chức vượt ngục... Chỉ hơn một năm ở trại giam đã có 99 người chết, gần 200 người vượt ngục. Một số anh em thoát ra, được tham gia chiến đấu và công tác ở đảo, góp phần làm nên những chiến thắng của quân dân Phú Quốc. Một số về chiến đấu và công tác ở đất liền. Tháng 7/1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Pháp đã trao trả cho phía cách mạng hầu hết tù binh ở trại này.
Cuối năm 1955, trong lúc giao thời “thay thầy đổi chủ”, ngụy quyền Sài Gòn tranh thủ lập một trại giam cũng ở địa điểm “Căng Cây Dừa” cũ, trên một diện tích rộng 4 ha, gồm có nhà giam tù nam, nhà giam tù nữ, nhà giam phụ lão, được chúng đặt tên là “Trại huấn chính Cây Dừa”, có lúc gọi là “Nhà lao Cây Dừa”. Đầu tháng 1/1956, ngụy quyền Sài Gòn đưa 598 người tù, quê quán từ 33 tỉnh ở trại “Trung tâm huấn chính Biên Hòa” đến đề lao Gia Định, rồi đưa xuống chiếc tàu vận tải của hải quân, mang tên Hắc Giang, rời bến Sài Gòn ngày 2/1/1956.
Cũng chính nơi đây, những tù binh chiến tranh tại Trại giam tù binh Phú Quốc đã phải chịu những hình phạt, tra tấn như đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố chế nước sôi hoặc đổ lửa than, ném vào chảo nước sôi, thiêu sống, chôn sống...Trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6/1967 đến 3/1973) trại giam tù binh Phú Quốc, có hơn 4.000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật tàn phế.
Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc có tất cả là 12 khu (năm 1972) được đánh số từ khu 1 đến khu 12. Riêng khu 13, 14 được xây dựng thêm vào cuối năm 1972. Mỗi khu trại giam có khả năng chứa khoảng 3000 tù nhân. Năm 1972, có khoảng 12x 3000 = 36 000 tù nhân. Mỗi khu trại giam lại được chia làm nhiều phân khu. Thường thì có 4 phân khu, trong 1 khu. Một phân khu chứa được 950 tù binh. Riêng phân khu B2 dành riêng để giam giữ các sĩ quan. Tù binh có cấp bậc lớn nhất là Thượng tá. Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc do 3 tiểu đoàn quân cảnh (7, 8, 12) canh giữ. Ngoài ra, Phú Quốc cũng có một trại giam tù hình sự, giam giữ những tù nhân thường phạm bị kết án 10 năm trở lên, ở thị trấn Dương Đông, mặt tây của đảo.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tại huyện đảo Phú Quốc, Căng Cây Dừa (1953-1954), Trại Huấn chính Cây Dừa (1955-1957), Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam-Phú Quốc (1967-1973) là nơi địch giam cầm, đọa đày các chiến sĩ cách mạng với quy mô, số lượng lớn nhất ở Việt Nam.
Giai đoạn 1967-1973, nhà tù này đã giam giữ gần 40 nghìn lượt tù binh là những chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang và cán bộ cách mạng Dân-Chính-Đảng. Phần lớn những chiến sĩ cách mạng bị tù đày ở đây đã vượt qua cái chết, vượt qua mọi sự đọa đày, dã man của kẻ thù cho đến ngày chiến thắng trở về, mặc dù mang trên mình nhiều thương tật. Có hơn 4.000 người đã bị kẻ địch sát hại, anh dũng ngã xuống với khí phách hiên ngang, ý chí cách mạng kiên cường, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc.
Chính trong hoàn cảnh ấy, những tù binh cộng sản giữa kẻ thù hung dữ, lúc nào cũng thẳng tay hành hạ, đàn áp tù binh, thậm chí đến chết đã thể hiện được ý chí, bản lĩnh cách mạng kiên cường. Với tuổi đời của chỉ mới mười tám, đôi mươi, rất ít đồng chí hơn ba mươi tuổi nhưng với sự lãnh đạo khéo léo tài tình của đảng ủy từng phân khu giam, đã đoàn kết thành một khối vững chắc, kiên cường chiến đấu trong thế trận mới. Một thế trận mà kẻ địch thì nham hiểm, độc ác, tàn bạo và sẵn sàng xả đạn vào anh em ta. Còn những tù binh cộng sản chỉ có tay không với lòng quả cảm và lý tưởng cách mạng cao cả, sẵn sàng nhận mọi sự hy sinh mà không tính toán thiệt hơn.
Các Chi bộ do tù binh tự thành lập theo kiểu du kích. Thường anh em dựa vào sự đã quen biết nhau từ trước, ở cùng quê hoặc cùng đơn vị để xác lập lòng tin, biết nhau là đảng viên rồi mới rỉ tai nhau lập một tổ, đủ 3 đảng viên thì nâng thành Chi bộ hoạt động phải rất bí mật và khôn khéo. Trong một nhà giam có thể có nhiều Chi bộ nhưng Chi bộ nào chỉ có thể biết đảng viên trong Chi bộ đó. Lúc đảng viên họp thực ra là ngồi tụm nhau ở một góc nhà giả đánh cờ hay đi ra ngoài hàng rào giả vờ đi tiểu để hội ý chớp nhoáng. Chỉ có Bí thư Chi bộ mới biết ai là Bí thư Đảng ủy. Người Bí thư Đảng ủy thường không để lộ diện trong các cuộc đấu tranh hay sự kiện nào. Khi kẻ thù phát hiện ra một chút manh mối nào là diệt ngay người đứng đầu, lôi đi tra tấn, truy tìm tổ chức của ta.
Đại bộ phận tù binh bị đẩy vào Nhà lao Phú Quốc vẫn giữ trọn lời thề danh dự thứ ba “Nếu bị địch bắt, dù trong trường hợp nào cũng giữ vững khí tiết là chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam … quyết không cung khai phản bội”. Những cuộc đấu tranh và bị đàn áp đẫm máu ở nhà tù xảy ra thường xuyên. Chẳng hạn vào năm 1965, lần ấy chúng bắt anh em tập hợp chào cờ Ngụy và hô đả đảo cộng sản. Anh em không chịu hô thế là chúng dùng dùi cui, báng súng đánh tới tấp, anh em đánh trả lại, chúng xả súng giết chết 78 người. Đầu tháng 9/1969 ở khu A4 biết được tin Bác Hồ mất, sáng hôm sau ngay trước cửa trại xuất hiện một băng vải đen rộng 10cm dài 200 cm viết chữ trắng “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Bọn giám thị bị bất ngờ nhưng chúng cũng chỉ dám lẳng lặng gỡ xuống rồi lặng lẽ đem đi chứ không gầm gào như mọi khi. Ít ngày sau bên khu sĩ quan ném đá sang báo tin, anh em bên ấy đã chích máu vẽ Bác Hồ ngay trên tường thiếc. Sau đó bọn giám thị bắt tù cạo rửa, tưới nước thế nào cũng không sạch, làm cách nào thì đôi mắt và hàm râu Bác vẫn hiện ra.
Nhiều anh em lúc mới bước chân vào nhà tù đã nung nấu ý định trốn tù. Có những vụ từ trong tự thoát ra. Có những vụ được lực lượng vũ trang bên ngoài hỗ trợ. Các vụ vượt ngục ở Nhà tù Phú Quốc có ba dạng trốn là: Vượt rào, đánh lính khi áp giải để chạy trốn, đào hầm thoát ra ngoài. Dụng cụ đào hầm tự chế bằng nắp cà mèn, cán muỗng. Cách đào phân công ba người một ca không mặc quần áo và đào vào ban đêm. Việc đào hầm không khó, khó nhất là làm sao giữ được bí mật. Vì vậy các đồng chí lên đầy đủ kế hoạch như lượng đất phải ép vào hai bên thành của hầm hoặc lợi dụng trời mưa đem đi đổ để xóa dấu vết, quan sát nếu có chỉ điểm thì trừ khử ngay. Theo tổng kết có 42 vụ vượt ngục, trong đó có 16 vụ vượt rào, 15 lần đi riêng lẻ, 7 cuộc đánh quân cảnh, 4 lần đào hầm. Hơn 400 người ra đi nhưng chỉ có 239 người về được căn cứ kháng chiến .
Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Nhà tù Phú Quốc bị giải tán. Tù binh được trao trả. Những câu chuyện khủng khiếp về một “địa ngục trần gian” giữa biển khơi vẫn còn trong ký ức không thể nào quên và những gì diễn ra với số phận của hơn 40.000 tù binh nơi đây là không thể kể xiết. Một khúc bi tráng về tù binh Nhà tù Phú Quốc ghi vào lịch sử. Chính vì vậy việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích này là việc làm rất cần thiết và quan trọng.
Thực hiện Hiệp định Paris, từ ngày 15-3-1973, chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ buộc phải thực hiện việc trao trả tù binh của Nhà tù Phú Quốc và cũng là ngày đánh dấu “Địa ngục trần gian” tại hòn đảo xinh đẹp này vĩnh viễn bị xóa bỏ.
****
**
Một thời chiến tranh khốc liệt, nhưng trong con tim của mỗi chúng ta lại có lý tưởng cao đẹp và trong sáng. Trong cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc, có người đã hy sinh, có người bị thương và có người bị địch bắt. Khi cầm súng những tù binh Cộng sản đã mưu trí, dũng cảm, chiến đấu ngoan cường, lập được nhiều chiến công hiển hách. Lúc bị địch bắt, các đồng chí ta vẫn một dạ một lòng kiên trung, bất khuất, giữ vững khí tiết cách mạng”.
Những cựu tù binh cộng sản hôm nay tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, là tấm gương sáng cho thế hệ hôm nay và mai sau noi theo./.