Hiển thị các bài đăng có nhãn Vẻ đẹp Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vẻ đẹp Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013


Cây Sung Dâu.
Tết Nguyên đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Tết Nguyên Đán là một dịp để cho mọi thành viên trong gia đình vui vầy sum họp. Đó là thời gian bày tỏ sự thương yêu thấm thiết và mong muốn cho mọi người được như ý. Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, nguồn cội, giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng cây) và tình nghĩa xóm làng ...
Ông Táo hay thần bếp là người mục kích sự làm ăn của mọi nhà. Theo tập tục hàng năm ông Táo phải thu xếp lên trời vào ngày 23 tháng chạp để tâu bày mọi việc dưới trần thế với Ngọc Hoàng. Bởi thế nên, trong ngày này, mọi gia đình người Việt Nam đều làm mâm cơm đạm bạc tiễn đưa "ông Táo". Ngày ông Táo về chầu trời được xem như ngày đầu tiên của Tết Nguyên đán.
Sau khi tiễn đưa ông Táo người ta bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh, câu đối, và cắm hoa ở những nơi trang trọng để chuẩn bị đón tết. Cùng với tranh (tranh dân gian, câu đối), hoa quả là yếu tố tinh thần cao qúi thanh khiết của người Việt Nam trong những ngày đầu xuân. Miền Bắc có hoa Ðào, miền Nam có hoa Mai, hoa Ðào, hoa Mai tượng trưng cho phước lộc đầu xuân của mọi gia đình người Việt Nam. Ngoài cành Ðào, cành Mai, mấy ngày tết người ta còn "chơi" thêm cây Quất chi chít trái vàng mọng, đặt ở phòng khách như biểu tượng cho sự sung mãn, may mắn, hạnh phúc...
Đêm 30 Tết, nhà ai cũng sum vầy chuẩn bị mâm cỗ đạm bạc cúng Giao Thừa. Tết trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bành trái đều không thể thiếu mâm ngũ quả. Mân ngũ quả ở miền Bắc thường gồm có: nải chuối xanh, quả bưởi, quả cam (hoặc quít), hồng, quất. Còn ở miền Nam, mân ngũ quả là dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc. Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ tới già ai ai cũng biết, sau đây là một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.
Tục chúc Tết ngày đầu năm. “Mồng một là Tết nhà cha”: sáng mùng một sau khi lễ gia tiên thì cha mẹ được mời ngồi vào ghế để cho con cháu lần lượt mừng tuổi chúc Tết. Ngày xưa họ còn được con cháu tế sống với hai lạy hai vái. Để mừng tuổi con cháu là những bao lì xì đỏ tươi làm rạng ngời ánh mắt bọn trẻ. “Mồng hai Tết mẹ”: cha mẹ và con cháu phải sang nhà ngoại để mừng tuổi chúc Tết. Cũng tuần tự những nghi thức như bên nội vậy. Sau đó thì nán lại để ăn cỗ đầu xuân nhằm thắt chặt tình cảm giữa hai gia đình. “Mồng ba Tết thầy”: sau công ơn đấng sinh thành dưỡng dục là ơn dạy dỗ của thầy cô. Đến mừng tuổi chúc Tết thầy cô là một phong tục nói lên tư cách đạo đức của một con người. Tóm lại, tục chúc Tết là một nét văn hoá thể hiện tình cảm sâu sắc và sự quan tâm, lòng hiếu thảo trong một thứ tự phải có của sự tồn tại và phát triển của một dân tộc.




Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013
Print

Đảo Song Tử Tây hiện lên xanh mướt giữa biển trời bao la
Đảo Song Tử Tây hiện lên xanh mướt giữa biển trời bao la
Bình yên trên đảo
Bình yên trên đảo
Ngọn hải đăng hiên ngang trong phong ba bão táp
Ngọn hải đăng hiên ngang trong phong ba bão táp
Kè chắn sóng đảo Song Tử Tây vững chãi bảo vệ người dân khỏi những con sóng gầm gào
Kè chắn sóng đảo Song Tử Tây vững chãi bảo vệ người dân khỏi những con sóng gầm gào
Nguồn năng lượng sạch đáp ứng đủ nhu cầu điện năng cho quân và dân đảo Song Tử Tây
Nguồn năng lượng sạch đáp ứng đủ nhu cầu điện năng cho quân và dân đảo Song Tử Tây
Lung linh xã đảo lên đèn
Lung linh xã đảo lên đèn
Âu tàu Song Tử Tây, điểm tựa vững chắc của ngư dân bám biển
Âu tàu Song Tử Tây, điểm tựa vững chắc của ngư dân bám biển
Các thế hệ nối tiếp nhau sinh sống trên hòn đảo thanh bình
Các thế hệ nối tiếp nhau sinh sống trên hòn đảo thanh bình
Một góc đảo Song Tử Tây
Một góc đảo Song Tử Tây
Ngôi chùa đẹp nhất quần đảo Trường Sa
Ngôi chùa đẹp nhất quần đảo Trường Sa
Hoa bàng vuông, nét đẹp độc đáo của Trường Sa
Hoa bàng vuông, nét đẹp độc đáo của Trường Sa
Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

                            Tặng em – Hà Nội trong anh!                                
 Hải Đăng
Tôi xin mạn phép được gọi Hà Nội là Em vì đơn giản tôi thấy Hà Nội đẹp, dịu dàng như một cô thiếu nữ: nhẹ nhàng, ý tứ, đôn hậu, chân phương. Dù trong những ồn ào náo nhiệt, vẻ đẹp thiếu nữ Tràng An ấy vẫn luôn tỏa ra những thứ quyễn rũ làm say đắm hồn người…   
Tôi không sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng ngay từ hồi nhỏ, tôi đã luôn mang trong mình những tình cảm tốt đẹp về Em. Những gì tôi biết về Hà Nội chỉ qua lời bố kể hoặc qua những câu chuyện cổ tích của bà, câu chuyện “hồi kháng chiến” của ông. Với hình dung của một đứa trẻ, đấy là nơi của phồn hoa đô hội, của ánh sáng nhiệm màu cổ tích, của những đủ đầy và cả những ước mơ.
Lớn. Lên Hà Nội học, tôi mới có cơ hội để tìm hiểu thêm về Em, về một Hà Nội nồng nàn, xinh đẹp từ trong tiềm thức, trong lịch sử và cả trong giản dị cuộc sống xô bồ vội vã hàng ngày. Tôi gọi Hà Nội là Em vì đơn giản thấy Hà Nội đẹp, dịu dàng như một cô thiếu nữ: nhẹ nhàng, ý tứ, đôn hậu, chân phương. Dù trong những ồn ào náo nhiệt, vẻ đẹp thiếu nữ Tràng An ấy luôn tỏa ra những thứ quyễn rũ làm say đắm hồn người…
Tôi yêu Em, Hà Nội…
Yêu những con đường màu xanh đậm chất thơ trong lòng Thủ đô ngàn năm tuổi, chúng biến đổi theo mùa và mỗi con đường đều mang những sắc màu và hương vị, cả những đặc trưng khác nhau: Là con đường lịch sử Bắc Sơn dẫn tới chân đài tưởng niệm liệt sĩ Hà Nội với ở giữa là vườn hồng quanh năm khoe sắc, hai bên với hàng hoa ban Tây Bắc rộ hoa vào những ngày xuân tháng ba làm mê mẩn lòng người khi du xuân hay dạo phố. Là đường bằng lăng Kim Mã, mỗi tháng 5 về lại làm xao xuyến tâm hồn các cô cậu học trò bằng sắc tím lãng mạn đến nao nao. Đấy là đường Hùng Vương với nồng nàn hương ngọc lan thơm phảng phất những chiều thu vàng tháng 8. Còn là những con đường hoa sao đen, hoàng lan, hoa sữa, những “băm sáu phố phường” vương trong niềm hoài cổ, tạo nên màu, nên thi vị xa xăm…
Tôi yêu Em, Hà Nội…
Là yêu những buổi sớm mai được thượng cờ trước quảng trường Ba Đình lịch sử, thấy thêm yêu và tự hào biết mấy Tổ Quốc trường tồn đi lên từ những khó khăn gian khổ. Yêu biết mấy Em - Trái tim của cả nước kiên cường, bất khuất, dũng cảm, hi sinh. Đang từng ngày, từng giờ thay da đổi thịt, phấn đấu đạt xứng tầm một Thủ đô giàu đẹp văn minh.
Tôi yêu những cổ xưa còn được lưu giữ bảo tồn trên mảnh đất văn hiến này, từ những kiến trúc cổ điển của những khu phố, thành quách, tới những nét văn hóa thanh lịch của người Tràng An còn được duy trì trong cuộc sống hiện đại, cả những đêm trăng nghe ca trù “hồng hồng tuyết tuyết” với cô bạn người Hà Nội, hay ngày tết Nguyên tiêu thích thú ngồi hàng giờ xem các nghệ nhân làm tò he, viết thư pháp trên vỉa hè đường Nguyễn Thái Học, để trở về với những giá trị muôn năm cũ còn được giữ gìn, phát triển tới ngày nay.
Tôi yêu cả những buổi chiều chủ nhật Tây Hồ lộng gió, của những nước, những mây trời, của hương sen, hương cốm ngạt ngào, của những khói phả hoàng hôn gợi những nỗi niềm hoài cổ của vị thi sĩ nọ tức cảnh tự tình:
“Sương lam phủ đất chim chờ gió,
 Sóng bạc tung trời cá đớp mây.”
 Tôi yêu Em, Hà Nội ….
Là yêu cả những tiếng rao đêm ngân dài trên các nẻo đường, khu phố. “ Ai xôi lạc…xôi vừng…bánh khoai…bánh khúc…”. Những âm thanh quen thuộc nghe vừa khắc khoải, vừa thân thương đến lạ lùng. Dù chỉ là nghe thôi cũng làm cho người ta thấy ấm lòng khi buổi đêm đang một mình trên phố. Chỉ là nghe thôi, người ta cũng bất chợt nao nao khi liên tưởng tới những thứ quà chân chất hồn quê mà mỗi dịp nông nhàn hay những ngày giỗ chạp, những bà, những mẹ, những chị, những em quây quần làm bên bếp lửa, nêm những ngọt ngào, nêm đầy cả những vị yêu thương. Những tiếng rao đêm mang đầy âm cảm, khắc sâu vào tâm thức mỗi người như một nét đặc trưng riêng rất nhỏ xinh Hà Nội, như nhận xét của một anh bạn “Tây balô” tôi quen trên facebook chia sẻ: “ Đấy là một bản nhạc ngẫu hứng của Hà Nội đêm, của những nghệ sĩ đường phố mang đầy hương vị làm no lòng người”.
Tôi yêu Em, Hà Nội…
Vì với tôi, Hà Nội còn đẹp trong muôn cái đời thường, giản dị, chân phương. Và tôi sẽ còn bị Em làm cho mê đắm, để mỗi ngày sống cùng Em, là thêm những cảm nhận mới mẻ về một thành phố hòa bình, năng động, sáng tạo, luôn tươi trẻ, hiện đại nhưng không kém phần lãng mạn, mang dư vị truyền thống văn vật của ngàn năm, của ngàn đời văn hiến, và e ấp, dịu dàng, nồng nàn, quyến rũ như vẻ đẹp của một thiếu nữ xinh đẹp đương bước vào xuân…
Hà Nội, Tôi yêu Em !
                                                                    
                                                           
Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

LâmTrưc@

Xôi bảy màu là món ăn truyền thống chỉ có trong những ngày lễ, tết của dân tộc Nùng Dín ở huyện Mường Khương (Lào Cai). Người phụ nữ Nùng Dín với đôi bàn tay khéo léo đã lưu truyền cách chế biến món xôi bảy màu từ đời này sang đời khác. 

Bảy màu của xôi (hồng, đỏ tươi, đỏ thắm, xanh cửu long, xanh vàng, xanh lá chuối, vàng) thường được tạo ra từ các loại cây lá (cây cẩm hoa, cây hoa vàng, cây nghệ...). Gạo nấu xôi là loại gạo nếp hạt to, dài. Trước khi nấu, nếp nương được ngâm trong nước khoảng 12 giờ, sau đó cho màu vào ngâm khoảng 3 giờ nữa. Tiếp đó, gạo được đãi lại rồi để riêng mỗi màu một góc trong nồi nấu xôi và nấu trong khoảng 1,5- 2 giờ. Để giữ màu xôi được tươi, khi nấu không được cho muối vào gạo. 

Xôi bảy màu của dân tộc Nùng Dín ngoài giá trị ẩm thực còn có ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Tương truyền, ngày xưa, khi quân giặc xâm phạm bờ cõi nước ta, người Nùng Dín sống ở biên cương đã đứng lên chống lại quân giặc. Trong cuộc chiến diễn ra từ tháng 1 đến tháng 7 âm lịch năm đó, có nhiều người đã ngã xuống để giữ vững mảnh đất biên cương. 

Ngày nay, cứ đến ngày 1/7 âm lịch, người Nùng Dín làm lễ mừng chiến thắng. Trong lễ hội này, bao giờ cũng có xôi bảy màu. Mỗi màu của xôi thường ứng với một tháng và mỗi tháng lại ứng với tiến trình chống giặc. Chẳng hạn: màu xanh lá chuối là màu của mùa xuân, màu đỏ thẫm biểu tượng cho máu của những người đã anh dũng hy sinh, màu vàng biểu tượng cho sự đau thương ly tán, màu đỏ tươi biểu tượng cho chiến thắng hào hùng của người Núng Dín... 

Nếu du khách có dịp đến Lào Cai vào dịp lễ, tết thì nên ghé vào thăm các gia đình dân tộc Nùng Dín ở huyện Mường Khương. Tại đây, du khách sẽ được mời ăn món xôi bảy màu dẻo, thơm và bổ dưỡng (vì chứa đựng nhiều vị thuốc dân gian). Loại xôi này thường được ăn cùng với muối vừng đen và thịt gà nướng. Du khách đến Lào Cai vào buổi sáng các ngày thứ bảy thì có thể đến chợ Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai để thưởng thức loại xôi hai hoặc ba màu như màu đỏ, màu xanh cửu long và màu vàng.

Quần đảo Bà Lụa hay còn gọi là quần đảo Bình Trị gồm khoảng 45 đảo lớn nhỏ khác nhau ở ngoài khơi huyện Kiên Lương - Kiên Giang. Mùa này biển đầy nắng và thanh bình.
Huyện Kiên Lương. Từ bến tàu Chùa Hang, ta có thể mua vé lẻ hoặc thuê trọn gói tàu ra Ba Hòn Đầm. 

Ba Hòn Đầm là 3 đảo nhỏ xếp thành hình tam giác tạo thành một vịnh nhỏ nước cạn chứa nhiều hải sản. Du khách có thể đi bộ vui đùa trên vùng này, tự tay mò bắt các loại hải sản thiên nhiên như Sò tộ, Sò hàu, Cua, Ốc, Nhum biển (cầu gai).... và nhờ bác Hai Mực chúa đảo chế biến. Các món ăn dân dã như cá Mú sao hấp gừng, sò hàu nướng mỡ hành, cua đá và ghẹ hấp nước dừa là một trong những điều níu chân du khách trở lại.

Trên đảo hiện chỉ có duy nhất một gia đình "Chúa đảo" là bác Hai Mực sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản và nuôi cá mú trong lồng bè. Hiện nay, gia đình mở cửa làm du lịch, bãi tắm, chế biển hải sản và chổ cho những du khách yêu thích thiên nhiên cắm trại qua đêm.

Biển xanh, gió mát, hải sản tươi ngọt, biển hoang sơ và còn rất nhiều bất ngờ để khám phá là những điều níu chân du khách quay trở lại.




Vượt qua nhiều đảo lớn nhỏ, để tới Ba Hòn Đầm, 1 trong những đảo hoang sơ ít người của quần đảo, để được hòa mình giữa thiên nhiên, biển xanh và mây trời.




Những bãi đá hoang sơ trên đảo


Trên đảo mọc rất nhiều cây dứa gai


Trên đảo mọc rất nhiều cây dứa gai


Trên đảo mọc rất nhiều cây dứa gai


Khung cảnh thanh bình trên đảo


Khung cảnh thanh bình trên đảo


Ghẹ sống


Cua đá


Sò hàu nướng mỡ hành rắc đậu phộng rang


Hải sản của đảo, được đánh bắt trực tiếp tươi sống và thơm ngọt, níu kéo chân người quay lại thêm lần nữa.... 


Bác chúa đảo

Cá mú xào hấp gừng
Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Lượn bước trên con đường thân quen, thấy mùi hoa sữa ùa về, Mùi hoa sữa hăng hắc, nhưng càng ngửi càng mê và cái se se lạnh của trời thu lúc sáng sớm, lúc chiều về có lẽ là đặc điểm khó quên nhất của muà thu Hà Nội. Hóa ra Hà Nội đã vào thu. Mới ngày nào còn đi giữa cái nắng chói chang của mùa hè, hay trong cơn mưa rào như trút nước,  mới hay ta đang đi giữa mùa thu…
Hà Nội vào thu mùi hương hoa sữa nồng nàn hòa quyện cùng cái se lạnh của mùa thu, tạo nên cảm giác nhè nhẹ và thoang thoảng. Nó đi vào lòng người và tâm trí mỗi người khi đi qua những con phố, những góc bờ hồ. Hà Nội mùa thu thật là tuyệt.
Thu Hà Nội như một món quà mà thiên nhiên, đất trời ban tặng cho mảnh đất ngàn năm. Mùa thu thì ở đâu cũng có, nhưng thu Hà Nội vẫn cứ đẹp đến nao lòng. Bầu trời xanh hơn, nắng vàng trải nhẹ trên những con đường, góc phố, trên những ngọn cây. Gió heo may nhè nhẹ thổi, cuốn theo những chiếc lá xoay xoay rơi như nốt nhạc. Thu Hà Nội đẹp và quyến rũ không chỉ vì cảnh sắc, khí hậu mùa thu, mà còn là điều gì đó mà ta chỉ có thể cảm nhận - rất khó gọi tên.
Mùa thu, mặt Hồ Gươm xanh biếc soi cả bầu trời xanh. Hàng cây cũng xanh, vài ngọn cây loà xoà đón nắng ửng vàng. Những cành lộc vừng trổ hoa, e ấp và run rẩy. Mới chiều tối còn thấp thoáng mà sáng ra đã rụng đỏ rực gốc cây, mặt hồ. Hoa lộc vừng Hồ Gươm cũng là một phần của thu Hà Nội. Nắng lấp lánh như dát bạc mặt hồ trên những gợn sóng lăn tăn, bồng bềnh trôi những bông hoa bé xíu.
Thu Hà Nội rộn ràng niềm vui của ngày khai trường, của đêm Rằm Trung thu cùng tiếng hát tuổi thơ. Thu Hà Nội cũng dìu dặt, se sắt nỗi buồn trong từng thoáng gió lạnh hay những giọt mưa như thể rơi rớt từ mùa hè, đem  theo những chiếc lá rụng vàng trên hè phố. Nắng, gió, mưa… tất cả đan xen và thay đổi thật nhanh như một cô gái dịu dàng nhưng cũng hơi đỏng đảnh. Trong cái dịu dàng thu ấy, người ta có cảm giác nhẹ nhàng, thư thái hơn, cuộc sống như trôi chậm lại…
Đêm thu dường như sâu lắng hơn, tĩnh lặng hơn. Những con phố không còn ồn ào náo nhiệt như những ngày hè. Thoảng đâu đó mùi hoàng lan, mùi hoa sữa, bất chợt vọng trong tâm tưởng một tiếng đàn. Gió lại thổi qua, lao xao tiếng lá. Có thể cảm thấy như hương mùa thu đậu trên vai áo, lùa vào trong tóc, len lỏi, vấn vương… Trong cảm xúc cùng mùa thu ấy, người ta khát khao được chia sẻ, yêu thương, khát khao kiếm tìm hạnh phúc.
Thu Hà Nội đến và đi nhanh lắm - thoảng như một cơn gió! Có khi người ta chưa cảm nhận được mùa thu, chưa thấyđược mùa thu thì thu đã qua đi, nhanh đến ngỡ ngàng. Mùa thu đẹp và ngắn ngủi, để lại bao bâng khuâng nuối tiếc.
Buổi sáng ngồi trên phố, uống cà phê dưới vòm cây xanh, nghe nắng gió xôn xao, nghe cả hơi thở của mùa thu trong từng chiếc lá. Và yêu, và nhớ, muốn ôm lấy mùa thu, muốn níu mùa thu ở lại… Tự dưng bối rối ở trong lòng…
Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012


Được biết đến là người gắn bó với nhiều ca khúc hát về Trường Sa, NSƯT Khánh Hòa sẽ gửi đến các chiến sĩ trên vùng biển đảo Tổ quốc thêm một sản phẩm âm nhạc có tên “Gần lắm Trường Sa”.
NSƯT Khánh Hòa hiện đang công tác tại Nhà hát ca múa nhạc Thăng Long - Hà Nội.
Trường Sa đã cho chị những trải nghiệm mà khi ở đất liền không thể nào cảm nhận hết được, vẻ đẹp của làn nước biển trong xanh như ngọc, khi bình minh hay hoàng hôn Trường Sa lại càng lung linh, thơ mộng.
Tình người Trường Sa vô cùng ấm áp, nồng hậu, những người lính đảo tuy chịu nhiều hy sinh gian khổ nhưng vẫn hêt sức lạc quan, yêu đời. Khánh Hòa tâm sự, ra Trường Sa thấy tự hào về đất nước và tình yêu Tổ quốc 'cháy' mạnh mẽ hơn.
Album “Gần lắm Trường Sa” là tất cả những tình cảm mà Khánh Hòa muốn dành cho Trường Sa và những người lính, những con người sống trên Đảo nhỏ xa xôi ấy.
Vì tình yêu đặc biệt với Trường Sa mà Khánh Hòa đã quyết định đầu tư album “Gần lắm Trường Sa” theo cách đầu tư một sự nghiệp lớn cho cuộc đời nghệ thuật của mình.
Khánh Hòa đã mất gần 2 năm để theo đuổi dự án này, một năm ròng chị phải làm các thủ tục xin phép để quay ở Đảo, rồi thủ tục cho ê-kíp quay phim hơn mười người ra Đảo.
Khánh Hòa là nghệ sĩ đầu tiên được đồng ý quay toàn bộ đĩa nhạc tại các đảo ở Trường Sa.
Album “Gần lắm Trường Sa” được thực hiện trong vòng gần một tháng, Khánh Hòa và đoàn làm phim đã có những ngày quay tại Vùng 4 Hải quân, Quân cảng Cam Ranh, Tp.Nha Trang, Mũi Né Phan Thiết, Cảng Cát Lái và các đảo ở Quần đảo Trường Sa.
Gần nửa tháng lăn lộn quay hình giữa cái nắng gió khốc liệt của Trường Sa, nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và tận tình của những người lính đảo, Khánh Hòa lại càng thêm yêu đảo nhỏ sâu sắc hơn.
Chị mong muốn tình yêu Trường Sa của mình sẽ lan truyền tới nhiều người khác qua những gì chị thể hiện trong album. Đây cũng là món quà tinh thần đặc biệt mà chị muốn gửi tặng các cán bộ chiến sĩ và nhân dân Huyện đảo Trường Sa thân yêu.
Thứ Năm, 20 tháng 9, 2012

Những giá trị truyền thống, nét đẹp văn hóa xa xưa luôn là điều mà các thế hệ sau này mong muốn giữ gìn và phát huy.
Sau thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm, vào đầu thế kỷ 10, Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập với sự thiết lập nhà nước quân chủ, sự hình thành giai cấp quý tộc, từ đó dẫn đến sự hình thành, phát triển một hình thức sinh hoạt âm nhạc riêng phục vụ cho lễ nghi của triều đình và nhu cầu sinh hoạt của tầng lớp quý tộc. 

Các bức ảnh dưới đây ghi lại hình ảnh của những loại hình nghệ thuật đặc sắc, được chọn lọc lại từ 2.000 bức ảnh về Việt Nam xưa. Đây là bộ ảnh do nhà giáo lịch sử đã nghỉ hưu Đoàn Thịnh và người con trai là kiến trúc sư Đoàn Bắc sưu tầm.


nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc

Được phát triển vào khoảng thế kỷ 13, Nhã nhạc cung đình Huế mang một âm điệu đặc trưng, thể hiện phong cách, tâm hồn, bản sắc Việt Nam nói chung và Huế nói riêng. Tháng 11 năm 2003, Nhã nhạc đã được UNESCO ghi tên vào danh mục Các Kiệt tác Di sản phi vật thể của nhân loại.



nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc
nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc


Đây là loại hình âm nhạc chính thống, được xem là quốc nhạc, sử dụng trong các cuộc tế, lễ của triều đình. Các triều đại quân chủ Việt Nam hết sức coi trọng, phát triển Nhã nhạc trở thành biểu tượng cho vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của triều đại. 



nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc



Tuồng, tức hát bộ, còn gọi là hát bội hay luông tuồng là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền ở Việt Nam, hình thành ở thế kỷ 15, 16.



nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc
nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc



Lối diễn xuất ở tuồng thường được khuếch đại hơn sự thật ngoài đời để khán giả dễ cảm nhận. Các động tác càng nhỏ càng nhanh, khi lên sân khấu càng cần tăng cường điệu thì khán giả mới kịp nhận thấy. Kiểu cách đi đứng còn dùng để biểu lộ cái "tâm" của nhân vật thiện, ác. Bức ảnh chụp những diễn viên tuồng cổ (hát bội).



nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc


Hát ca trù (hát ả đào, cô đầu) là một bộ môn nghệ thuật truyền thống kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc, học giả yêu thích. Bức ảnh chụp gánh hát ca trù thời xưa.



nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc



Một chầu hát cần có 3 thành phần chính: 1 nữ ca sĩ (gọi là "đào" hay "ca nương") sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp; 1 nhạc công nam giới (gọi là "kép") chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát; người thưởng ngoạn (gọi là "quan viên", thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống. 



nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc


Múa Bài Bông hay “bắt Bài bông” là một điệu múa nằm trong hệ thống các bản múa của nghệ thuật ca trù. Hình thức xuất hiện khoảng hơn một thế kỷ trước, thường được biểu diễn trong các dịp đại lễ, phục vụ hội hè, mang nặng tính lễ nghi.



nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc


Xẩm là một loại hình dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Theo nhiều tài liệu, Xẩm ra đời vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và còn được dùng để gọi những người hát xẩm - thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống. Hồi đó, hát xẩm còn có thể coi là một nghề. 



nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc

nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc


Ca từ của xẩm chủ yếu là thơ lục bát, lục bát biến thể có thêm các tiếng láy, tiếng đệm cho phù hợp với làn điệu. Nội dung của các bài xẩm có thể mang tính tự sự như than thân trách phận, nêu gương các anh hùng hay châm biếm những thói hư, tật xấu... hoặc trữ tình.



Thêm một số hình ảnh về các loại hình nghệ thuật khác ở Việt Nam thời xưa:


nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc
Dàn đồng ca trong nhà thờ.

nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc
Nhạc công truyền thống.

nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc

nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc
Họa sĩ tranh dân gian Hàng Trống.

nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc
Họa sĩ tranh sơn dầu (hội họa hiện đại). 

nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc
Ban nhạc Lôi Tiên (dòng tân nhạc).

nghe-thuat-viet-nam-xua-qua-bo-anh-doc
Hình ảnh ghi lại cảnh trước cửa hiệu chụp ảnh và quay phim Hương Ký.



Tiền nhân của chúng ta đã để lại một nền nghệ thuật đồ sộ và một vài quyển sách, văn bản tư liệu mang tính thi pháp về nghệ thuật. Bởi vậy, ta luôn cần bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật nhằm gìn gữ được giá trị đích thực của một nền nghệ thuật đã và đang ngày bị mai một.

Blogger templates

Blogger news

Blogroll

Total Pageviews

Tổng số lượt xem trang

Labels

Categories

Ad

Label Cloud

Follow us on Facebook :P

Your Page links

Được tạo bởi Blogger.

Followers

Hot Topics